ĐÔNG PHÚ

Tin tức

Tư vấn

Dự án

Thi công

Liên kết

Thời tiết

Tỷ giá ngoại tệ

Văn hóa thưởng trà của người Việt

Trong kho tàng văn hóa Việt Nam, bên cạnh phong tục “miếng trầu là đầu câu chuyện” thì “mời trà” cũng là một nét văn hóa đã tồn tại từ ngàn năm.

Thưởng trà - nét văn hóa lưu truyền từ ngàn xưa.

Nghệ thuật pha trà và văn hóa uống trà của người Việt không chỉ biểu hiện đầy đủ khía cạnh ngôn ngữ sâu xa trong văn hóa ứng xử đầy tính sáng tạo của người pha trà và người được mời uống trà mà đối với những người hiểu biết về văn hóa trà thì sẽ không bao giờ có thể nhầm nghệ thuật uống trà của Việt Nam với bất cứ nước nào dù là Trung Quốc, Hàn Quốc hay thậm chí là cả Trà đạo Nhật Bản.

Mỗi buổi thưởng trà của người Hà Nội xưa thường rất cầu kỳ và cẩn trọng. Từ việc chuẩn bị nguyên liệu, trà cụ cho tới không gian và tâm thế thưởng trà tất cả đều được chuẩn bị một cách chu đáo.

Người xưa có câu: “Nhất nước, nhì trà, tam pha, tứ ấm” đấy là kinh nghiệm của các bậc tiền nhân sành trà để lại cho hậu thế. Nhưng nước, trà, ấm và cách thức pha chế như thế nào để đạt được một ấm trà ngon, thỏa nguyện những người thưởng trà thì đó lại là một nghệ thuật.

Trước tiên chúng ta nói về “nước” yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự ngon hay không ngon của chén trà. Chẳng thế mà các cụ ta thời xưa vẫn gọi nước là “trà hữu”, nghĩa là bạn thân thiết của trà. Nói về nước dùng trong pha trà, Thánh Trà Lục Vũ người Trung Quốc đã có câu: “Sơn thủy thượng, giang thủy trung, tỉnh thủy hạ” (Nước suối núi hạng nhất, nhì đến nước sông, ba đến nước giếng).

Tuy nhiên nước suối không phải bạ đâu lấy đó mà phải là nước lấy ở khúc suối chảy trên sỏi, chảy vào hồ đá. Nước sông cũng phải lấy ở thượng nguồn, lấy giữa dòng sông, nơi sông không chảy siết như sắp đến đập đến thác, nơi sông phải xa nơi người... Còn về nước giếng, thì những giếng thượng hạng thường là giếng của chùa, chùa ở trên núi hoặc ít nhất cũng là ở xa nơi đô hội phồn tạp… Thế mới thấy chỉ việc chọn nguồn nước để nấu trà cũng đã tốn rất nhiều công phu.

Đấy là ở những nơi gần suối, gần sông, vậy còn Hà Nội thì sao? Địa thế Hà Nội không gần nguồn suối mà lại thuộc hạ lưu sông nên người Hà Nội xưa thường pha trà bằng nước mưa và nước giếng khơi. Khi mưa được khoảng 10 phút, khi đã hết bụi bẩn trong không gian, người ta mang bàn ra giữa sân gạch, lấy chậu sành to để lên trên bàn hay trên nóc nhà hứng nước mưa, cất đi để dành.

Nước ở giếng khơi thì phải chọn những giếng đào xuống phía dưới có đá ong, giếng được đào ở những nơi xa khu dân cư, sạch sẽ, nước trong, vị ngọt, uống nước lã mà thấy ngon và mát lành. Cũng có những người sành trà và cầu kỳ ở Hà Nội đã rất cẩn thận dậy từ sáng sớm khi mặt trời chưa ló dạng, đi thuyền ra giữa hồ sen hứng những giọt sương đêm mang về làm nước pha trà.

Những giọt sương sớm chính là thứ nước tuyệt vời để pha trà.

Có nước rồi thì lại phải để ý đến một phần quan trọng khác nữa, đó là kỹ thuật đun nước. Đun nước phải cần có hỏa lò đúng cách và chất lượng than đạt yêu cầu. Dân sành trà luôn có riêng một hỏa lò và ấm nước đun bằng kim loại giành riêng cho việc nấu nước pha trà, và không dùng chung vào việc khác vì sẽ làm mất hương vị trà. Độ nóng của nước cũng quyết định chất lượng chén trà, không đủ độ nóng thì không chiết hết tinh trà mà quá nóng thì trà sẽ nhũn và bay mất hương trà.

Sự tinh tế của người xưa còn thể hiện trong tâm hồn vào chén trà ngay trước khi nó được pha, các cụ thưởng thức trà ngay từ tiếng reo của nước đang đun để phân biệt ba loại nước sôi. Độ thứ nhất là nước sôi “giải nhãn” trông như mắt loài cua (mới chớm sôi); độ thứ nhì là “ngư nhãn” tức bọt nước lăn tăn trông giống như mắt đàn cá đang lội gần mặt nước (sôi vừa), cuối cùng là nước sôi to. Với mỗi loại trà sẽ có cách thức chọn độ sôi của nước cho phù hợp mới có thể có được ấm trà tuyệt hảo.

Trà dành được chọn pha cũng phải là loại trà thượng hạng, đối với người sành trà Hà Nội thường chỉ ưa chuộng loại trà mộc, tức là loại trà không tẩm ướp bất kì thứ hương hoa nào. Trong bài “Kệ uống trà” của Cao Bá Quát cũng có viết: “Chọn bạn chọn bề ngoài/ không thấy điều hẳn hoi/ Uống chè có ướp hương/ Biến mất hương chè rồi”.

Muốn có chè ngon nhiều người phải lên tận những vùng trồng trà nổi tiếng, tự tay chọn chọn loại chè ngon rồi sao chế bằng phương pháp thủ công. Song đối với những nghệ nhân sao chế trà thì trà ngon cũng như bạn hiền, “chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu”.

Thái Nguyên vùng trồng chè nổi tiếng.

Nếu nói về các loại trà thì đầu tiên cần phải nhắc đến Trà mạn với nguyên liệu là trà Tuyết Shan cổ thụ vùng mạn ngược Hà Giang, mọc tự nhiên trên những dãy núi cao 800 - 1.300m, quanh năm sương phủ. Các nghệ nhân trà Hà Nội trân trọng, nâng niu từng búp trà này như một báu vật. Họ chọn lựa những búp non, những lá trà bánh tẻ rửa sạch, cho vào chõ đồ chín. Sau khi phơi khô, họ cho trà vào chum (vại), trên phủ một lớp lá chuối khô, ủ 3 4 năm cho trà phong hóa bớt chất chát, có độ xốp như giấy bản mà vẫn lưu giữ được hương vị đặc trưng.

Trà ướp hương sen có thể nói là một món sản vật của người Hà Thành, là hội tụ đỉnh cao của cái tinh tế, phong cách tao nhã, thanh lịch và sành điệu của người Tràng An. Trong đó bông sen là thứ hoa thông dụng nhất mà cũng là quý nhất, ướp trà ngon nhất. Khi ướp, người ta rải một lớp trà rồi một lớp gạo sen mỏng, rồi lại một lớp trà, một lớp gạo sen. Cứ thế cho đến khi hết trà. Sau cùng, phủ một lớp giấy bản. Thời gian ướp tùy thuộc vào độ ẩm của gạo sen nhiều hay ít, thường từ 18 - 24 giờ. Sau đó, đem sàng để loại bỏ những hạt gạo sen. Sàng loại xong, trà được đóng vào những chiếc túi làm bằng giấy chống ẩm để giữ lấy cả hương sen lẫn hương trà, rồi sấy cho đến khi cánh trà khô, hương sen quyện thì bỏ ra.

Chè sen món quà quý giá của người Hà Nội.

Lại ướp một lần sen thứ hai, thứ ba, thậm chí thứ tư, thứ năm tùy thuộc vào sở thích của người thưởng trà đậm hay nhạt. Càng ướp nhiều lần thì hương sen càng quyện, trà càng thơm. Trung bình, mỗi cân trà ướp cần từ 1.000 -1.200 bông sen. Cho nên, không phải ngẫu nhiên, mỗi 1kg trà sen thời xưa được đổi bằng 2 -3 chỉ vàng mà người sành trà vẫn nao nức lùng mua bằng được.

Người xưa rất hay tổ chức những hội trà mời người tri âm tham dự, và đỉnh cao là hội trà ngũ hương. Trà ngũ hương chỉ giới hạn cho 5 người. Khay uống trà ngũ hương phải thửa 5 chỗ trũng để 5 loại hoa đang độ đượm hương nhất: cúc, sói, nhài, sen, ngâu và úp các chén kín hoa, bưng khay để lên nồi nước sôi cho hương hoa bám vào lòng chén. Pha trà mạn ngon và rót đều vào từng chén, mỗi người tham gia sẽ phải đoán hương trà trong chén của mình và cùng nhận xét. Sau mỗi chén trà, người chủ trà lại hoán vị hương để ai cũng được thưởng thức hết cái tinh túy của hội trà ngũ hương.

Trong “Chén trà trong sương sớm”, Nguyễn Tuân còn thi vị hóa việc đun nước pha trà, cho từng hòn than ngọn lửa một hình ảnh rất nghệ thuật: “Những hòn than tàu cháy đều, màu đỏ ửng, có những tia lửa xanh lè vờn quanh. Không khí mỗi lúc giao động càng nâng cao thêm những lưỡi ngọn lửa xanh nhấp nhô. Hòn lửa rất ngon lành, trở nên một khối đỏ tươi và trong suốt như thỏi vàng thổi chảy”.

Vì chất đốt sẽ quyết định đến mùi vị của thứ nước được đun sôi. Không thể sử dụng thứ củi ướt, củi tạp để đun nước vì như vậy sẽ khiến cho nước có mùi khói ảnh hưởng đến hương vị của ấm trà. Than hoa là thứ mà những “chân trà nhân” lựa chọn, vì than hoa giữ được nhiệt tốt, không có khói làm hỏng vị nước. Than phải chắc để đượm lửa, ít phải cho than mới vào gây khói ám vào nước. Than cây nhãn dùng rất tốt nhưng người Việt thời trước còn có loại than đặc biệt: trái ổi xanh phơi khô dùng để đun.

Trà cụ dùng để xúc trà, lấy bã trà đều bằng tre khô hoặc gỗ thơm. Lúc pha trà người ta thường dùng thìa gỗ múc trà cho vào ấm đất nung nhỏ, được gọi là “Ngọc diệp hồi cung”. Để được chén trà ngon thì bình trà và tách uống trà phải được làm nóng lên bằng nước sôi. Khi châm nước lần một gọi là “cao sơn trường thủy” rồi chắt ngay ra. Đây là thao tác tráng trà nhằm loại hết bụi bẩn và cho trà khô kịp thấm không nổi lềnh bềnh.

Lần thứ hai đổ nước vào ấm gọi là “hạ sơn nhập thủy” nên đổ nước cao, tràn miệng bình để khi đậy nắp lại, bụi trà tràn ra hết, rồi dội nước sôi lên nắp để giữ nhiệt độ cao nhất cho ấm trà. Nước hai chính là nước ngon nhất được tạo ra trong vòng 1-2 phút, có hương vị đượm đà, thơm tho quyến rũ. Khi rót trà phải chuyên đều các chén sao cho nồng độ trà như nhau bằng cách kê khít miệng chén lại và đưa vòi ấm quay vòng. (Cách phổ biến trong truyền thống là rót ra chén tống (chén hạt mít) rồi chia đều ra các “chén quân”.

Nghi lễ thưởng trà cũng cầu kỳ không kém, dâng chén trà theo đúng cách là ngón giữa phải đỡ lấy đáy chén, ngón chỏ và cái đỡ miệng chén gọi là “Tam long giá ngọc”. Người dâng trà và người nhận đều phải cung kính cúi đầu. Trước khi uống, đưa chén trà sang tay trái, mắt nhìn theo, sau đó đưa sang phải “du sơn lâm thủy”. Khi uống, cầm chén trà quay lòng bàn tay vào trong, dâng chén trà lên sát mũi để thưởng thức hương trà trước, sau đó tay che miệng nháp nháp từng ngụm nhỏ nhẹ. Người uống cũng phải chậm rãi mím miệng nuốt khẽ cho hương trà thoát ra đằng mũi và đồng thời đọng trong cổ họng, nuốt tý nước bọt lần một, lần hai, lần ba để cảm nhận.

Ở Việt Nam, có thể nói trà có mặt trong mọi hoạt động của xã hội, từ trong gia đình ra ngoài phố, từ nhà hàng, quán chợ cho đến những nơi tiếp khách sang trọng. Uống trà là một thú chơi thanh đạm nhưng cũng thật lắm công phu, dần dần những công phu đó trở thành lễ nghi, phảng phất một mùi thơ, một vị triết lý.

[ Quay lại ]
Các tin khác